|
NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP CÓ THAI SAU
TTTON – XIN TRỨNG
VỚI
NMTC < 7 mm Ở NGÀY TƯƠNG ĐƯƠNG CHO HCG
BS. Phạm Bích Sơn
Bệnh viện Phụ Sản Quốc Tế Sài Gòn
I. Tóm Tắt:
Chúng tôi báo cáo môt trường hợp lâm sàng có thai sau TTTON (xin trứng)
với NMTC người nhận ở ngày tương đương cho hCG người cho < 7 mm.
Theo y văn, khi NMTC
£
8 mm vào ngày cho hCG thì thai kỳ hiếm khi xảy ra; và khi NMTC
£
7 mm thì thai kỳ không xảy ra.
Abstract:
We report a clinical cas that the woman got pregnant after
donation. The endometrium of the recipient at the same time of
hCG of the donor was under 7 mm. It’s said that when the
endometrium is under 8 mm on the day of hCG the implantation
will rarely occur. And when the endometrium is under 7 mm the
implantation will fail.
II. Nhập Đề:
Sự chấp nhận của NMTC trong các
chu kỳ HTSS luôn là vấn đề làm đau đầu các nhà lâm sàng trong
lĩnh vực HTSS. Chúng tôi báo cáo một trường hợp lâm sàng bệnh
nhân trải qua 5 chu kỳ TTTON (xin trứng) với NMTC mỏng trung
bình 7.5 mm vào ngày tương đương cho hCG của người cho trứng.
Kết quả bệnh nhân đã 3 lần mang thai sau 3 chu kỳ TTTON và với
chu kỳ cuối cùng NMTC 6.8 mm bệnh nhân có được một bé trai xinh
xắn, dễ thương.
III. Nhận Xét:
Bệnh nhân trải qua 5 chu
kỳ TTTON (xin trứng), 1 chu kỳ TTTON tự thân phải ngừng vì đáp
ứng kém của buồng trứng. Trong 5 chu kỳ xin trứng thì 3 chu kỳ
có thai (60%).
Các chu kỳ có thai đều nhận thấy có
³
2 phôi chất lượng tốt.
Độ dày NMTC được đo ở các
chu kỳ vào ngày người cho trứng được tiêm hCG dao động từ 6.8 mm
--> 8.6 mm (trung bình là 7.5 mm), trong đó 3 chu kỳ có thai thì
NMTC lần lượt là 7.2 mm; 7.9 mm và 6.8 mm. Với chu kỳ sau cùng
NMTC là 6.8 mm thì bệnh nhân may mắn có thai và đã sanh được một
bé trai đủ ngày đủ tháng.
Dạng NMTC đa số là dạng
không phân lớp “non – multilayered” riêng chu kỳ thành công có
sinh bé thì NMTC là dạng phân lớp “multilayered”.
Sự chuẩn
bị NMTC ở các chu kỳ được áp dụng nhiều phác đồ chuẩn bị NMTC
khác nhau, nhưng chưa thấy phác đồ nào thể hiện NMTC có ưu thế
nổi bật hơn.
Tất cả các chu kỳ đều
là chuyển phôi khó.
IV. Bàn Luận:
Sự
phát triển các phác đồ KTBT, kỹ thuật thu trứng, sự cải thiện kỹ
thuật trong phòng Lab trong hơn 20 năm qua đã làm cho kỹ thuật
TTTON trở thành một phương pháp hữu ích hơn trong điều trị cho
các trường hợp vô sinh do bệnh lý các cơ quan vùng chậu, nguyên
nhân vô sinh do chồng, rối loạn buồng trứng hoặc vô sinh chưa rõ
nguyên nhân. Tuy nhiên, một tỷ lệ cao các chu kỳ TTTON không
thành công mặc dù hầu hết các bệnh nhân này đều có ít nhất từ 2
– 3 phôi tốt để chuyển, chỉ duy có 30 – 40% là có thai. Đó là do
bởi tỷ lệ làm tổ của phôi thấp. Sự chấp nhận của tử cung và sự
trưởng thành tương ứng của NMTC là cần thiết cho sự làm tổ của
phôi.
Một yếu tố khác cũng quan trọng cho sự làm tổ của phôi, đó là
chất lượng phôi. Sự phân biệt giữa 2 yếu tố không phải lúc nào
cũng rõ ràng ở cùng một cá thể. Sự chấp nhận của tử cung có vẻ
quan trọng hơn ở những trường hợp có phôi tốt để chuyển mà không
đậu thai. Không có một tiêu chuẩn chung nào để đo lường, đánh
giá sự chấp nhận của NMTC. Gần đây có một số nghiên cứu có gắng
liên hệ giữa các yếu tố mô học, nội tiết, đo đạc NMTC trên siêu
âm với sự chấp nhận của NMTC.
1.Đánh
giá sự liên hệ về mô học của NMTC, nội tiết với sự chấp nhận của
NMTC.
Nhiều nghiên cứu đã báo cáo đánh giá sự thay đổi bề mặt biểu mô
NMTC bởi kính hiển vi điện tử vào ngày chuyển phôi. Đặc trưng
này được gọi là “ pinopods”, nó là một nét đạc trưng siêu cấu
trúc của NMTC ở giữa chu kỳ và được coi là dấu hiệu đáng tin cậy
của sự làm tổ, nó phát triển và thoái hóa trong thời gian ngắn
giữa giai đoạn hoàng thể từ N4 -> N7 sau hCG. Sự xuất hiện của
“pinopods” được xem là đánh dấu thời gian cửa sổ làm tổ của phôi
Theo Reddy và cs, thực hiện biopsy ở các chu kỳ trước điều trị
trên 40 bệnh nhân TTTON(xin trứng), tỷ lệ 83% có thai ở những
người có hiện diện “pinopods” và ở những người không có
“pinopods” thì không có thai. Kỹ thuật tiên đoán sự làm tổ của
phôi này đầy hứa hẹn nếu được xác nhận thêm bởi các nghiên cứu
khác. Tuy nhiên kỹ thuật trên đòi hỏi phải biopsy NMTC nên có
thể gây tổn thương và chảy máu làm giảm cơ hội có thai của bệnh
nhân.
Nồng độ hocmon sinh sản trong máu có giá trị ít trong việc tiên
đoán sự trưởng thành của NMTC, mặc dù có sự liên quan giữa độ
dày NMTC và nồng độ Estrogen trong chu kỳ tự nhiên lẫn chu kỳ có
KTBT. Nồng độ Estrogen đơn thuần biểu diễn sự hoạt động của các
tế bào hạt chứ không biểu diễn sự trưởng thành của NMTC. Sự
trưởng thành của NMTC phụ thuộc vào sự phát triển của các
Receptor Estrogen. Nó được mã hóa bởi đặc điểm di truyền ở từng
cá nhân và do đó cùng nồng độ Estrogen có thể có những mức độ
trưởng thành NMTC khác nhau ở những cá thể khác nhau. Sự không
đồng nhất này được tìm thấy ở chu kỳ tự nhiên lẫn chu kỳ có
HTSS.
Rõ
ràng sự đánh giá mô học và nội tiết không phải là yếu tố tiên
đóan tình trạng NMTC có thể tin cậy được. Mặc dù đánh giá
“pinopods” đầy hứa hẹn nhưng nó đắt tiền và cần thử nghịêm thêm.
Do đó cần thiết phải có phương pháp đánh giá sự chấp nhận NMTC
khác mà không xâm lấn. Ở những năm sau này siêu âm được xem là
công cụ đánh giá sự chấp nhận NMTC có giá trị.
1.Siêu
âm:
Hai kỹ thuật siêu âm để đánh giá sự chấp nhận NMTC là đánh giá
dạng xuất hiện của NMTC và sự tưới máu của NMTC bởi siêu âm
Doppler màu. Đánh giá dạng xuất hiện của NMTC bởi 2 yếu tố: độ
dày và dạng của NMTC.
Độ
dày NMTC: được định nghĩa là khoảng cách xa nhất giữa vùng cản
âm giữa cơ tử cung và NMTC đo trên mặt phẳng vuông góc trục dọc
giữa trung tâm của tử cung. Độ dày NMTC không liên quan đến dạng
NMTC. Ở các chu kỳ tự nhiên độ dày NMTC ở chu kỳ có thai dày hơn
có ý nghĩa. Độ dày NMTC là yếu tố tiên đoán sự thành công cho
chu kỳ IVF. Tất cả kết quả sinh thiết NMTC ở giai đoạn thích hợp
đều có NMTC >= 7 mm.
Trong một nghiên cứu hồi cứu
Gonen và cs, sử dụng siêu âm đầu dò ngã âm đạo, kết luận rằng độ
dày NMTC ngày trước chọc hút dày hơn có ý nghĩa ở những bệnh
nhân có thai và điều này có thể tiên đoán được sự làm tổ cùa
phôi.
Dickey và cs: nhóm bệnh nhân có
NMTC < 6mm hoặc >13mm thì tỷ lệ sẩy thai sớm gia tăng.
Gonen và cs: NMTC < 6mm thì thai
kỳ không xảy ra.
Kalifa và cs: NMTC mỏng nhất
thích hợp để có thai là ³ 7 mm.
Vương Thị Ngọc Lan nghiên cứu
trên 314 bệnh nhân: khi NMTC <8mm thì thai kỳ hiếm xảy ra và
NMTC < 7 mm thai kỳ không xảy ra.
Tóm lại, mặc dù ít các nghiên
cứu cho rằng có liên quan giữa độ dày NMTC và tỷ lệ thành công
trong các chu kỳ TTTON, NMTC <7 mm được xem là dấu hiệu đáng tin
cậy để tiên đoán khả năng không làm tổ của phôi. Bứơc tiến bộ
chủ yếu của đo độ dày NMTC là giá trị tiên đoán âm tính cao ở
những trường hợp độ dày NMTC mỏng.
Dạng NMTC: được định
nghĩa là mối liên quan về độ cản âm của NMTC và cơ tử cung lân
cận và được đo trên mặt cắt dọc thân tử cung của siêu âm. Ngày
nay, để đơn giản người ta phân biệt 2 dạng NMTC: dạng phân
lớp(multilayered hay triple line appearance) và dạng không phân
lớp ( non – multilayered).
Trong nghiên cứu tiền cứu,
Serafini va cs: dạng NMTC 3 đường có giá trị tiên đoán sự làm tổ
của phôi hơn bất kỳ phương pháp đo đạc nào.
Sher và
cs: có sự liên quan giữa dạng không phân lớp NMTC với tuổi tác
và sự bất thường của tử cung.
Nhấn mạnh rằng NMTC xấu
không loại trừ thai kỳ. Nhiều tác giả đã chứng minh thai kỳ có
thể xảy ra ở chu kỳ có dạng NMTC xấu dù tỷ lệ thấp. Tuy nhiên
khi NMTC <7mm và dạng NMTC xấu(non – multilayered) chính là dấu
hiệu không làm tổ của phôi.
Sử dụng SÂ Doppler màu giúp đánh
giá đặc điểm tưới máu của NMTC. SÂ Doppler màu ngã ÂĐ là phương
pháp không xâm lấn đánh giá tuần hoàn trong tử cung. Doppler màu
đã chứng minh sự thay đổi tưới máu trong TC và BT trong suốt chu
kỳ kinh và kháng trở mạch máu này khác nhau giữa những phụ nữ vô
sinh, không vô sinh và những phụ nữ bị sẩy thai liên tiếp. Kháng
trở dòng chảy ở ĐM tử cung được xem là yếu tố tiên đoán của sự
làm tổ của phôi trong những cas làm TTTON. Tuy nhiên, sử dụng kỹ
thuật này cũng còn mới mẻ và các ứng dụng lâm sàng còn chưa chắc
chắn.
VI.
Kết Luận:
Sự
hiểu biết sâu rộng hơn về sự làm tổ của phôi là yếu tố quan
trọng trong việc nâng tỷ lệ có thai trong các chu kỳ HTSS. Những
tiến bộ gần đây của siêu âm trong đánh giá NMTC và dòng máu nuôi
dưỡng cũng như đánh giá mô học của NMTC đã hữu ích trong việc
xác định các chu kỳ nào có khả năng đậu thai kém. Sự ra đời của
siêu âm màu trong nghiên cứu lĩnh vực hiếm muộn có thể giúp ích
trong nghiên cứu lâm sàng sự chấp nhận của tử cung. Cần thêm nữa
các nghiên cứu để khảo sát các phương pháp làm tăng sự chấp nhận
NMTC và tỷ lệ đậu thai trong HTSS.
Tài Liệu Tham Khảo
-
Vương
Thị Ngọc Lan (2003). Độ dày NMTC và tỷ lệ có thai trong
TTTON. Sinh sản và sức khoẻ. 4: 5 – 6.
-
Carlos Simon, Carlos Moreno, Antonio Pellicer (1999).
Implantation process: Lessons from ART, In Female
infertility therapy. 1st edition, pp 393 – 403.
Martin Dunitz Ltd, Lonilos.
-
Seang
Lin Tan, Marinko M Biljan (1999). Clinical assessment of
uterine receptivity: Lessons from ART, In Female infertility
therapy. 1st edition, pp 407 – 414. Martin Dunitz
Ltd, Lonilos.
-
P.
Kovacs, Sz. Matyas, K. Boda, S.G. Kaali (2003). The effect
of endometrial thickness on IVF/ICSI outcome. Human
reproduction Vol.18, No.11, pp 2337 – 2341.
-
Mark V
Semer, Matheno A Cohem (2004). Egg and embryo donation, In
Textbook of assisted roproductive techniques. 2nd
edition, pp 845 – 850. Taylor and Francis, Lonilos.
-
Marinko M Biljan. Ultrasound in ART, In Textbook of assisted
roproductive techniques. 2nd edition, pp 698 –
701. Taylor and Francis, Lonilos.
7. Peter Rogers (2004). Uterine receptivity, In
Handbook of In-Vitro Fertilization. pp 263 – 286. CRC,
Australia.Kết luận
Nghiên cứu cho thấy sử dụng môi trường G1.3 có hiệu quả hơn
trong nuôi cấy phôi trong TTTON so với mội trường IVF-30 trước
đây, thể hiện qua tỷ lệ phôi cò chất lượng tốt cũng như khả năng
phôi làm tổ cao hơn.
Địa chỉ của chúng tôi:
www.sihospital.com.vn
-
sihospital@hcm.vnn.vn
Rất hân hạnh được phục
vụ quý đồng nghiệp và quý khách!
^
Về đầu trang |